Từ ngày 01/8/2025, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 (sau đây gọi là Luật năm 2014) hết hiệu lực thi hành, được thay thế bởi Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025 (sau đây gọi là Luật năm 2025). Theo Nghị quyết số 253/NQ-CP[i], các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật năm 2014 (gồm: Nghị định số 87/2015/NĐ-CP[ii], Nghị định số 126/2017/NĐ-CP[iii], Nghị định số 23/2022/NĐ-CP[iv], Nghị định số 91/2015/NĐ-CP[v], Nghị định số 10/2019/NĐ-CP[vi]) tiếp tục có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2025 cho đến khi có văn bản thay thế hoặc bãi bỏ.
Do đó, nhằm hỗ trợ Quý Khách Hàng kịp thời nắm bắt các quy định mới của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2025), đặc biệt là những nội dung có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và quản trị của doanh nghiệp có vốn nhà nước, Đất Luật trân trọng gửi đến Quý Khách Hàng chuyên đề “TỔNG HỢP MỘT SỐ ĐIỂM MỚI TIÊU BIỂU CỦA LUẬT QUẢN LÝ VÀ ĐẦU TƯ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP NĂM 2025 SO VỚI LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ VÀO SẢN XUẤT, KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP NĂM 2014”, với một số điểm mới tiêu biểu như sau:
- Chỉ cơ quan, tổ chức được Chính phủ giao mới được xác định là “cơ quan đại diện chủ sở hữu”, bỏ tiêu chí xác định cơ quan đại diện chủ sở hữu là “doanh nghiệp do mình quyết định thành lập”.
- Mở rộng khái niệm “đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp” – bao quát toàn bộ vốn, tài sản nhà nước, thay vì chỉ giới hạn ở ngân sách và các quỹ do Nhà nước quản lý.
- Tách bạch “vốn nhà nước tại doanh nghiệp” và “vốn của doanh nghiệp”, thay vì chỉ định nghĩa “vốn của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”.
- Bổ sung nguyên tắc áp dụng Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp; áp dụng Luật Doanh nghiệp và luật khác có liên quan đối với các vấn đề không được quy định tại Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
- Cấm hành vi “can thiệp không đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn” trong “hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp” thay vì “vào hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”.
- Cấm hành vi “thực hiện không đúng quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước trong việc quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp” thay vì “thực hiện không đúng quy định về quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và quản lý phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”.
- Luật hóa quy định Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm, gắn với chỉ tiêu cơ bản được đại diện chủ sở hữu nhà nước giao.
- Doanh nghiệp được quyền quyết định việc huy động vốn theo cơ chế tự vay, tự trả, với điều kiện bảo đảm khả năng thanh toán nợ.
- Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty có quyền quyết định từng dự án, khoản đầu tư có giá trị không quá 50% vốn chủ sở hữu hoặc không quá 50% vốn đầu tư của chủ sở hữu.
- Doanh nghiệp không được đầu tư để góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp tại doanh nghiệp khác nếu doanh nghiệp đó có người quản lý hoặc người đại diện thuộc diện là vợ, chồng, cha mẹ, con, anh chị em ruột, hoặc các quan hệ gia đình khác của thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, Kiểm soát viên, Kế toán trưởng.
- Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty được quyền quyết định chuyển nhượng dự án đầu tư, vốn đầu tư có giá trị chuyển nhượng không quá 50% vốn chủ sở hữu hoặc vốn đầu tư của chủ sở hữu (theo báo cáo tài chính gần nhất).
- Luật hóa quy định cho phép doanh nghiệp được chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án đầu tư nếu đáp ứng điều kiện của pháp luật về đầu tư, đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và pháp luật có liên quan.
- Việc chuyển nhượng vốn đầu tư tại nước ngoài phải tuân thủ pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư, phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời bảo đảm thu hồi tối đa vốn đầu tư của doanh nghiệp.
- Việc quyết định mua, thuê mua tài sản cố định được thực hiện theo thẩm quyền trên cơ sở xác định giá trị. Người quyết định mua, thuê mua tài sản cố định phải chịu trách nhiệm về việc quyết định không đúng thẩm quyền hoặc tài sản cố định được mua, thuê mua không sử dụng được, sử dụng không hiệu quả.
- Doanh nghiệp được bán tài sản cố định “đã hư hỏng, lạc hậu kỹ thuật, không có nhu cầu sử dụng hoặc không sử dụng được hoặc sử dụng không hiệu quả để thu hồi vốn”.
- Mở rộng tiêu chí xác định tiền lương, tiền thưởng gắn với thị trường, hiệu quả sản xuất kinh doanh và mức độ hoàn thành nhiệm vụ.
- Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty được quyết định tiền lương, thù lao, tiền thưởng cho cả người lao động và người quản lý, thay vì do cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt.
- Doanh nghiệp được phép dùng lợi nhuận sau thuế để: (i) xử lý các chi phí theo quy định của các luật chuyên ngành; (ii) bù đắp chi phí khảo sát, thăm dò khoáng sản không đủ điều kiện triển khai dự án; (iii) xử lý chi phí đầu tư thất bại tại các dự án đặc thù, rủi ro cao theo quy định của Chính phủ; và (iv) chi trả chi phí thực hiện nhiệm vụ chính trị do cơ quan có thẩm quyền giao.
- Nâng mức trích Quỹ Đầu tư phát triển tối đa từ 30% lên 50% lợi nhuận sau thuế.
- Mở rộng mục đích sử dụng Quỹ Đầu tư phát triển (không chỉ giới hạn ở “ngành, nghề kinh doanh chính” mà cho phép dùng để mở rộng sản xuất, kinh doanh nói chung và bổ sung vốn điều lệ).
- Việc bảo toàn và phát triển vốn phải được đánh giá trên cơ sở hiệu quả tổng thể của doanh nghiệp, thay cho phương pháp đánh giá đơn thuần dựa trên kết quả lãi – lỗ.
- Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty phải giải trình nguyên nhân, đề xuất biện pháp khắc phục và chịu trách nhiệm về tình hình tài chính của doanh nghiệp, thay vì chỉ chịu trách nhiệm báo cáo, không gắn trách nhiệm cá nhân.
Nội dung Chuyên đề này đã được Đất Luật cập nhật cho các Khách hàng thường xuyên của Đất Luật theo địa chỉ email đã đăng ký. Trường hợp Quý Khách hàng chưa đăng ký email với Đất Luật và có mong muốn nhận email cung cấp văn bản từ Đất Luật, vui lòng liên hệ với Đất Luật theo địa chỉ sau để được hỗ trợ (có tính phí cung cấp văn bản):
Ms. Phương - Điện thoại: (028) 6260 7101-Ext: 0 ; Email: datluat@dlf.vn Quý Khách hàng cũng có thể tham khảo nội dung Chuyên đề này tại website của Đất Luật sau thời gian 06 tháng kể từ ngày Chuyên đề được cập nhật cho các Khách hàng thường xuyên của Đất Luật.